| |
TẠP GHI VĂN NGHỆ
Saturday, January 31, 2004
|
|
|
|
|
|
Nguyễn Mạnh Trinh
Ðầu năm, thường là lúc phóng chiếu về trước mặt để qua những hiện tượng bây giờ tiên đoán những chuyện sắp tới. Mỗi một năm là một dịp để nhìn lại. Hướng về quá khứ, cân phân hiện tại, ước đoán tương lai để xem những ước đoán của mình chính xác bao nhiêu. Hình như, cái lo sợ phập phồng về một nền văn học từ từ tàn tạ vẫn còn, nhưng mỗi năm là một ngạc nhiên. Dù sinh hoạt văn học có trầm trầm một nhịp điệu, nhưng cũng không đến nỗi yểu tử. Vẫn còn những người viết, vẫn còn những người đọc và vẫn có những cuốn sách mới ra đời. Dù không có những dấu hiệu được mùa, nhưng cũng không có những cánh chim báo bão. Ðộc giả có giảm đi số lượng, sách in có giảm đi con số phát hành, nhưng vẫn có những người đam mê văn chương đeo đuổi kiên trì cái nghiệp đa mang. Những bàn viết lữ thứ vẫn sáng đèn (theo lối nói của cố văn sĩ Mai Thảo xưa kia) và vẫn có nhiều người khởi hành lên đường vào trường văn trận bút...
Ở hải ngoại, nơi xa quê hương, tấm lòng của người viết dường như không khác gì với những người trong nước. Cũng mong ước những gì tốt đẹp nhất cho quê hương. Và bút mực là để giãi bày tâm sự. Ðể cái chung hòa lẫn với cái riêng thành một biểu tượng cho một thời đại quá nhiều biến cố. Cuộc chiến dù đã qua gần ba chục năm nhưng vẫn còn âm hưởng. Ðời sống tiếp nối, lớp này sau lớp khác, tâm tư dù có khác nhau nhưng khát vọng căn bản vẫn không thay đổi. Văn chương, ở một khía cạnh tích cực nào đó, vẫn có tác dụng của những bông hoa làm đẹp cho đời.
Viết, là một công việc ghê gớm? Có phải như chuyện đội đá vá trời? Lịch sử, không những được ghi chép lại bằng những sử gia mà còn bằng những tiểu thuyết gia hiện thực. Những phác họa đời sống, mô tả chân thực khiến những người thuộc thế hệ sau dễ dàng mường tượng được cảnh tượng và nỗi niềm của một thời. Thử tưởng tượng, sau này chúng ta nếu không có những tác phẩm như “Vũ Trung Tùy Bút” của Phạm Ðình Hổ, hay “Thượng Kinh Ký Sự” của Lê Hữu Trác... thì làm sao có những xúc cảm về một thời đại có nhiều biến đổi đến chóng mặt về nhiều phương diện. Mà, nghĩ cho cùng, thời đại ấy có nhiều điểm tương đồng với thời thế hiện nay. Mô tả hiện thực một cách chân thực có nghệ thuật chính là công việc làm sống lại lịch sử.
Thời bây giờ, đề tài chiến tranh vẫn là một đề tài lớn, dù tiếng súng đã chấm dứt gần ba chục năm nay. Thời gian có làm lắng đi những xúc động để những nhà văn nói lên nỗi niềm của mình? Và, có tìm được vị trí chính xác và chân thực của những người tham dự? Ðọc những người viết ở trong nước hay ở hải ngoại, chúng ta thấy được những gì về cuộc chiến ấy? Một cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn?
Một cuộc chiến ủy nhiệm của hai cường quốc trong thời kỳ chiến tranh lạnh? Một cuộc chiến tự vệ chống làn sóng đỏ phương Bắc? Một cuộc chiến đấu vì độc lập vì tự do chống đế quốc chống nô lệ? Hình như có nhiều cuộc chiến trong một cuộc chiến Việt Nam. Những ý niệm đối lập nhau, từ vị trí địch-bạn, từ chính nghĩa và phi chính nghĩa... tất cả tạo thành một rối rắm phức tạp mà thời gian chưa đủ làm lắng đọng đi những chủ quan vẫn còn tồn tại.
Viết về chiến tranh, như một cách phác họa hiện thực, hiện nay hình như đã có sự tô hồng hoặc bôi đen “hiện thực” trong tiểu thuyết, trong văn chương ở những người cầm bút trong nước. Và một khi sự trung thực không còn nữa thì cái “hiện thực” ấy khó làm những lớp người sau chấp nhận. Ở những cây bút có suy tư, dường như họ cũng hiểu rõ điều ấy. Nhưng, hiểu biết là một lẽ mà làm sao thực hiện những suy tư ấy được mới là điều cốt tủy. Ðọc những tiểu thuyết, thấy man mác những nỗi niềm. Không ngỏ được thì bứt rứt. Mà, ngỏ được, thì chông gai trùng trùng. Câu “văn có họa” nhiều khi thật đúng. Họa là tai họa, chứ chẳng phải là xướng họa hay tranh vẽ!!!
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong bài viết “Thời Của Tiểu Thuyết” có bàn về vị trí của nhà văn. Trên thực tế, ở trong cái biển văn chương tầm thường thì thiên tài văn chương rõ ràng còn hiếm hơn vàng. Phải qua sàng lọc thời gian, phải qua sàng lọc của rất nhiều thế hệ độc giả, nhà văn thiên tài mới được ghi danh vào lịch sử.
Ðương thời, những trò chơi trung bình luôn được dung túng vì nhiều lẽ. Việc chống lại những tác phẩm trung bình luôn là những dằn vặt với những “ông số 1”. Trên thực tế, những trò “đánh bùn sang ao” hoặc “đánh lận con đen” vẫn diễn ra nhan nhản mọi nơi, mọi lúc. Vượt lên trên hết thảy (thậm chí cả dư luận) là rất khó với các “cá nhân cô đơn”, thậm chí đôi khi người ta phải “tâm đen, mặt dày” mới thoát hiểm được.
Trong văn học (cũng giống như trong chính trường, thương trường...) những cá nhân nổi trội buộc phải đấu tranh với sự “tầm thường tập thể”. Gần như hầu hết khi còn đương thời họ đều thất bại. Ðấy là thực tế, không phải có câu cách ngôn “trường văn trận bút” các nhà văn trẻ phải ý thức được điều này khi họ bắt đầu đặt chân bước lên con đường văn học chông gai gian khổ...
Một nhà văn trong nước viết một sự thực mà ông trăn trở để tìm lối ra. Viết hiện thực về một thời đại mà mình đang sống có phải là công việc quá khả năng? Nhà văn đã xa gần đề cập đến: “sự tầm thường tập thể”. Có phải là liên tưởng từ một khuôn khổ giống nhau để cùng một lúc hoặc “tô hồng” hoặc “bôi đen” hiện thực theo chỉ thị của “lãnh đạo”. Và vì muốn không hòa nhập vào “sự tầm thường tập thể” ấy mà nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến đã chúc anh “không thuận buồm xuôi gió”?
Nửa đùa nửa thực, trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, tác giả những truyện ngắn được coi là xuất sắc nhất đã hạ bút “Tốt nhất là cuộc sống trưởng giả”:
“...Ðã có nhiều tấm gương hy sinh vì văn chương và người đời vẫn thấy khâm phục, vừa thấy sợ họ! Làm người bình thường đã khó, chuyện sinh kế vợ con không phải chuyện đùa. Tôi nhiều lần nói với các nhà văn trẻ rằng “sự nghiệp lớn nhất của một người đứng đắn là học lấy một nghề” hái ra tiền “lấy vợ sinh con, nuôi dạy chúng nên người, sống già rồi chết”. Thượng Ðế ban cho chúng ta mạng sống với khoảng sáu bảy mươi xuân, chúng ta phải biết quý trọng cái mạng sống, sống cho có “chất lượng”, vui thú với đời, làm việc thiện, đóng góp được với đời được gì thì đóng góp, không thì thôi, chẳng nên cố gắng đến quá sức mình. Cuộc sống trưởng giả không phải là tốt nhưng cũng không xấu. Mỗi thời có một “kiểu” nhà văn của nó. Thời của tiểu thuyết phải chăng là thời của các bậc trưởng giả ngồi rung đùi viết văn?
Thế chẳng vui sao? Thế chẳng sướng sao?
Nguyễn Huy Thiệp mượn lời Kim Thánh Thán để chấm dứt một câu chuyên. Thực? Giả? Bỡn? Ðùa? Hay nghiêm trang khuyên bảo? Hay nói để mà chơi? Chúng ta cũng chẳng thắc mắc làm gì. Dù, có khi ông đã viết “Những nhà văn lọc lõi không muốn điên, đến một lúc nào đấy sẽ không viết nữa. Họ chết như mọi người và chết trong những trang sách ẩm mốc...”
|
|
|
|
Những Bài Liên Quan: |
|
|
|
 |
|
|
|
|
Nguoi-Viet
 Promote Your Page Too
|