Ðỗ Tăng Bí ghi
(Tiếp theo)
Nhiều tổ chức, đoàn thể, nhiều cơ quan truyền thông, nhiều trường đại học Mỹ và các sắc tộc thiểu số đã công nhận sự đóng góp của nhà báo, nhà hoạt động Ðỗ Ngọc Yến, cho sự phát triển và hội nhập của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, và sự hòa hợp với các cộng đồng bạn. Ðộc giả đã được đọc và nghe nhiều chương trình phỏng vấn, bài báo viết về anh Ðỗ Ngọc Yến. Riêng phần ghi dưới đây sẽ cho chúng ta thấy bàng bạc hình ảnh anh Yến hồi còn rất trẻ qua ký ức của ông về Sài Gòn những năm tháng 1950. Phần ghi này trích từ “chương trình” nói chuyện giữa Ðỗ Ngọc Yến và bạn bè vào cuối năm 1999. Chúng tôi thường nêu ra với anh Yến các thắc mắc về những điều xảy ra trong giai đoạn trước đây chúng tôi chưa hiểu rõ, và Anh trả lời như một đóng góp hiểu biết của Anh. Về đề tài “Thời nhỏ của anh Yến”, chúng tôi gồm Phạm Phú Minh, Hà Tường Cát và Ðỗ Tăng Bí thay nhau nêu câu hỏi...
ÐTB: Cái hồi bắt những người tham dự các buổi truy điệu lẻ tẻ đó, anh cũng bị bắt?
ÐNY: Hồi đó tôi còn nhỏ quá, hồi đó cái vụ truy điệu đó tôi không phải là cánh “tổ chức”, đôi khi tôi chỉ tham dự. Sở dĩ tôi tham dự là vì lúc đó tôi là hướng đạo sinh, hướng đạo mình thường khuyến khích đoàn sinh đi đâu mình cũng tích cực, mình đóng cái vai phục vụ, thí dụ như ăn uống mình phục vụ bằng cách tổ chức cho người ta ăn uống, đưa đón mình tổ chức đưa đón, trật tự này kia nhưng mà thực sự mình không biết chương trình. Nghĩa là chuyện đó định làm như thế nào thì mình không biết, nhưng thấy có một số người tập họp thì mình xoay ra “tổ chức” thế nào cho cuộc họp có trật tự. Ðó là năm 1955, nhưng từ năm 1956 tôi đi sâu vào chuyện sản xuất báo, báo bí mật, báo lậu. Ðến năm 1957 thì tổ chức hội họp bí mật. Ðến năm 1959 tôi mới bị bắt.
ÐTB: Nghĩa là anh vào “nghề báo” từ năm 1957? Anh làm báo lậu dưới hình thức “in” từ hồi đó?
ÐNY: Báo in ở đây là báo in bột, tức là bột thường, bột gạo, nhưng có điều đặc biệt là mực in phải mua ở tiệm bán ở đường Catinat. Loại mực đó là loại mực của Ấn Ðộ. Lọ mực cũng đắt tiền, lúc đó đi mua lọ mực cũng bằng bao anh em đi một chầu ciné. Mực chà lên bột, mực thấm vào, rồi lăn bột lên từ tờ giấy này qua tờ giấy kia, lăn độ chừng ba chục trang thì bột xộc xạch và chữ ngoằn ngoèo hết, đôi khi muốn làm nhiều phải in hai lần. Sau này người ta gọi in sương sa thì cũng là nguyên tắc đó hết. Thực ra thì cái đó chỉ là chuyện học tập làm công tác, thực sự nội dung của những tờ đó không có gì đặc biệt.
ÐTB: Như thế có phải vì các hoạt động như tham dự các buổi họp bí mật, các buổi truy điệu, và vì việc in báo lậu mà anh bị bắt?
ÐNY: Thực ra cũng không hẳn vì những hoạt động đó, nhưng cứ cái máu hoạt động, cái máu hướng đạo hay lăng xăng tham gia, khi các ban đại diện học sinh hội họp làm kiến nghị phản đối gửi tổng thống và quốc hội thì thế nào mình cũng dính vào. Nhưng đúng ra mình không bị bắt.
ÐTB:Anh có thể nói rõ về vụ kiến nghị đó? Có dính vào mấy cái vụ Trần Văn Ơn?
ÐNY: Trên nguyên tắc vụ kiến nghị không dính vào mấy cái vụ như Trần Văn Ơn. Hồi đó, tự nhiên mấy ông bên Bộ Quốc Gia Giáo Dục hay mấy ông nào đó cho ra quyết định những ai đỗ bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp hạng từ Bình Thứ hay Bình gì đó trở lên mới được vào học lớp Ðệ Tam trường công. Như thế là họ đẩy một số lớn học sinh không cho học đệ nhị cấp. Thành ra phía học sinh phản đối. Các ban đại diện hội họp rồi làm kiến nghị.
Kèm theo việc phản đối quyết định trên, thì cũng có thêm một hai yêu sách nữa có tính cách chung chung cho toàn bộ học sinh các lớp. Tôi thì không thuộc một ban đại diện nào, nhưng như trên đã nói, cứ cái tính hướng đạo, cố giúp họ tổ chức công việc sao có hiệu quả, nên cuối cùng tôi là người mang gửi những bản kiến nghị đó cho tổng thống, quốc hội... Muốn cho chắc ăn, tôi ra bưu điện gửi bảo đảm.
Từ bản kiến nghị đó họ đưa đâu khoảng 14 người ra trước tòa, trong đó là 12 người đại diện của các ban đại diện học sinh, những người đã ký tên vào các kiến nghị. Trong những người ký tên có năm bảy người loại hoạt động, có những người vì là vào đại sau đó gia đình lo cho họ thoát được, họ học hành tiếp tục bình thường không có gì hết, có những người cũng bị sổ đen sổ đỏ hoài, có những người thoát ly luôn.
Trong trường hợp tôi, tôi là người không có ký tên trên văn kiện nào hết, nhưng mà tôi lại ký trong hai cái loại văn kiện hành chánh, vì khi gửi những bản kháng nghị lên cho tổng thống và quốc hội thì phải ra bưu điện gửi bảo đảm, và hồi đó muốn gửi bảo đảm cho tổng thống và quốc hội thì họ biên căn cước của mình, thành ra nó có vẻ là một người tổ chức ở một dạng nào đó.
Có lẽ trong trường hợp của tôi là tôi hoạt động khá độc lập thấy cái gì tiện mình làm chẳng phải mình thuộc hệ thống nào, do đó nó cũng theo truy mãi, cũng theo dõi mình và để đấy thôi. Nhưng đến lúc đưa ra tòa thì lại lấy cái tên tôi gọi là vụ án Ðỗ Ngọc Yến và các đồng lõa.
ÐTB: Nghe nhiều người kể lại hồi đó vụ án mang tên anh cũng xôm tụ lắm, cũng cái kiểu “anh hùng” ấy mà. Người ta lạc quyên, người ta biểu tình, những chuyện trên có đúng không?
ÐNY: Cũng chẳng có gì to tát lắm đâu. Ðại khái như thế này. Cả bọn ra tòa cuối Tháng Giêng năm 59. Cũng lại là một kinh nghiệm nữa. Ðó là tự nhiên không biết từ đâu có bao nhiêu luật sư đến để đề nghị biện hộ miễn phí. Một số trong các ông luật sư này là những ông đầu tàu của mấy ông tranh đấu sau này.
Như vậy mình phải hiểu rằng mấy ông ấy đã được “bên kia” yêu cầu yểm trợ. Lúc xử án, lại nảy ra phong trào nhịn ăn điểm tâm để dành tiền trả luật sư biện hộ cho mấy người bị ra tòa. Ðến ngày tòa xử lại có bãi khóa, học sinh vây nghẹt tòa án các song sắt hàng rào tòa án bị bám nghẹt. Chúng tôi phải khó khăn lắm mới vào được.
Vì chúng tôi bị đưa ra tòa chứ không bị bắt giam, ở nhà rồi tự đi hầu tòa. Ðến lúc chúng tôi vào đến tòa, tập hợp điểm danh xong thì ông tòa nói là đình vô hạn định. Ðình mà đình vô hạn định thì tức là ai về nhà nấy.
ÐTB: Mặc dù bản án không có, nhưng anh vẫn bị trường Petrus Ký đuổi học? Ðiều đó khiến cuộc đời anh có thay đổi?
ÐNY: Tôi từ tòa án đi về trường, lúc đó tôi học đệ nhị. Vừa đến trường thì hai ông giám thị chờ sẵn kẹp cổ tống ra ngoài cửa trường và bảo từ rày trò không được trở lại trường này nữa vì sáng nay hội đồng giáo sư họp đã đuổi học vĩnh viễn. Ðó là khoảng cuối Tháng Giêng năm 1959.
Buổi sáng đi thẳng ra tòa, rồi về trường thì bị đuổi. Lúc đó tôi đang là Trưởng Ban Báo Chí của trường. Ðể lại đống bài vở cho các bạn trong ban, xin đi lấy xe đạp, rồi lững thững đạp về nhà. Ðạp xe đến nhà thì ông cụ đã được báo là tôi bị đuổi học từ sáng rồi.
Sau buổi sáng đó tôi đi khỏi trường Petrus Ký. Thành ra trong cuộc sống đời tôi có khác với nhiều bạn khác. Bình thường, ở mỗi lứa tuổi người ta có một số kỷ niệm, một số kinh nghiệm giống nhau. Thí dụ ở tuổi mười mấy thì có những kinh nghiệm đúng với tuổi đó.
Ở đây, tôi có những kinh nghiệm hơi sớm trước tuổi, ngoài kinh nghiệm đi học, mà lại không có kinh nghiệm hồi còn bé như đánh đáo, đánh điếc, bắn chim. Nó cũng là hoàn cảnh chiến tranh. Chiến tranh trong nước ta xảy ra trên hai ba bình diện, nội chiến, ý thức hệ này kia, không phải bây giờ người ta mới tận dụng đám trẻ con như là bên Phi Châu, đám trẻ 13, 14 tuổi cầm khẩu súng bazoka hay là mặc bộ đồ lính của người lớn nom nó buồn cười. Thời đó người ta cũng sử dụng trẻ con nhưng mà tinh vi, vô cùng tinh vi, hệ thống lớp lang và nó có một kinh nghiệm là mấy chục năm ở Việt Nam, Trung Quốc, ở ngoài Bắc vào trong Nam mấy chục năm, mấy thế hệ như vậy. Thành thử cái đó đối với Tây Phương đó là cái gì nó hơi lạ nhưng đối với xứ nông nghiệp, xứ Ðông Nam Á mình thì nó thành là chuyện bình thường ai cũng có thể trải qua được. Ðó cũng là cái điều mà người Mỹ không hiểu được về đất nước, con người Việt Nam. Ðôi khi có những người rơi vào giữa cuộc chiến của hai hệ thống, bị hút vào đó như một cơn lốc.
HTC: Anh Yến đã có thời gian nào đi tản cư trước 54?
Ð.N.YẾN: Trong trường hợp của tôi, trong giai đoạn tản cư có xảy ra nhưng ngắn và gần, nghĩa là chỉ chung quanh Sài Gòn chứ không đi xa.
Hồi đó tôi đi tản cư ở Lái Thiêu (mấy vườn sau này mà chúng ta đi cắm trại ăn trái cây), để tránh Nhật bỏ bom tại Sài Gòn vào cuối 44 đầu 45. Tôi không có cuộc tản cư lớn.
Nhưng lúc biểu tình 25 tháng 08, sau này ông Tạ Thanh Sơn đặt bài hát, “Mùa thu rồi ngày 23 ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến...” thì đó là ngày 23 tháng 08 có cuộc nổi dậy giành độc lập theo lệnh Tổng Bộ Việt Minh, còn vụ 02 tháng 09 là sau nữa.
Trong đầu óc tôi là những cảnh nên thơ, tản cư là các cụ thuê các xe cá. Xe cá là xe ngựa kéo, nhưng xe cá có ít nhất hai con ngựa kéo. Còn xe ngựa, xe thổ mộ, chỉ có một con ngựa thôi. Xe cá giống như xe minivan, phía trên rộng có thể để tủ lớn chồng lên nhau. Xe cá này chở người tản cư từ Sài Gòn về phía ngoại ô, thường thì chạy về Lái Thiêu hoặc Tân Quy vì ở đây có nhà vườn nhiều. Người dân Sài Gòn chạy về đó đồng bào tại đây cho tá túc.
Những nhà tá túc về sau, khi đến năm 54-55, tôi hay đạp xe đạp về vùng đó chơi, đi thăm những cụ già. Ðặc biệt năm 55 tôi đạp vô vườn chơi, có chứng kiến một cảnh, sau này mới vỡ lẽ ra, lúc đó tôi khoảng 13-14 tuổi, tôi thấy mấy ông nông dân mặc quần áo đen ngồi đầy, đông lắm, ngồi rất trật tự, sau này tôi mới hiểu là mấy ông tập kết. Nhưng hình ảnh tôi nhớ rõ nhất là cái hình ảnh mà trong sử cũng nói, là dân ở ủy ban hô hào dân chúng xuống đường đi ra đường Catinat, ông già tôi đã dắt tụi tôi đi từ sáng sớm, ghé tiệm Tàu đầu đường làm ly cà phê mà ông Bình Nguyên Lộc từng mô tả là “đổ ra cái dĩa” uống, lúc đó tôi khoảng 4 tuổi.
Sau đó cảnh nhớ nữa là cảnh Tây đi xét nhà. Ðầu tiên chúng chỉ xét thôi, xong có mấy người Việt Nam đi theo bắt mở tủ, rương... ra, rồi thấy đồ đạc chúng lấy đi. Tụi Tây và người nhà mình thấy vậy thì bắt phải trả lại.
Nhưng cái cảnh bắt đầu biết sợ là sợ cảnh bị Tây bố. Hồi đó cứ sáng sớm: “đi bố, đi bố” nghĩa là Tây bao hết vùng đó, trước cửa trường Nguyễn Bá Tòng, tất cả đàn ông bị lùa hết ra ngoài khu đất trống, nằm trước cửa nhà tôi. Tất cả ngồi chồm hổm, hai tay để lên đầu; đàn bà con nít thì đứng lóng ngóng quanh đó. Sau đó bị lên xe “cây” chở về bót.
Sau rồi đến “bao bố nhìn mặt” nghĩa là cho những người đi nhận diện, những người này thì được chụp bao bố lên đầu. Tên nào bị nhìn mặt và gật đầu thì bị giữ lại, không có thì cho về. Về sớm nhất là những ông công chức, gần nhà tôi có mấy ông công chức Sở Hỏa Xa. Sở Hỏa Xa không phải là của nhà nước nhưng có chế độ công chức nên được ưu tiên.
Và từ đó trong đầu tôi có ý niệm thế nào là công chức, công chức thì oai quyền lắm, làm công chức thì an ninh, rồi được về trước cho đi làm. Chờ đến chừng 10-11 giờ nghe nói ông già được thả về thì mừng, còn giờ đó không được thả về, mà tin “bao bố trùm mặt” gật đầu thì chết. Ðây là những giây phút điếng hồn của những gia đình lúc bấy giờ. Vài năm sau thì lựu đạn nổ ngay trước cửa nhà. Hay trong những năm đó, hình ảnh những ông Việt Minh cứ đến nhà xin tiền bố tôi - thời đó thanh niên ngày ấy ai cũng tầm vông vạt nhọn đi quanh quanh khu phố - hay có những ông bạn già đến nhà... và sau đó mới biết rằng đó là những ông Việt Minh, nôm na là những người bị bắt rồi thả ra.
Thường những người được thả ra bị đánh đập xơ xác rách mướp, đau ốm ho lao, phải đi loanh quanh xin tiền. Những gia đình bình thường dù muốn dù không ai cũng giúp đỡ. Và những cảnh này cứ trở đi trở lại hoài.
(Còn tiếp)