Hình bên: Tiến Sĩ Wen Cheng Lin, khoa trưởng phân khoa khoa học xã hội trường Ðại Học Quốc Gia Tôn Dật Tiên, chủ tịch Cơ Quan Phát Triển Dân Chủ Ðài Loan, đang trả lời những câu hỏi của phái đoàn dân cử gốc Việt Nam, Nam California viếng thăm Ðài Loan từ ngày 1 đến ngày 5 Tháng Tư, 2007. (Hình: Vũ Ánh/Người Việt)
Vũ Ánh
Có thể hòa giải được với Hoa lục không?
Chuyện người Ðài Loan không thích người khác gọi họ là người Trung Hoa là một câu chuyện dài giống như lịch sử cận đại của hòn đảo Formosa. Tôi không dùng cái mốc là một thời điểm nào đó khi đảo Ðài Loan bị ngoại thuộc mà dùng thời điểm là năm 1949, tức là năm Tưởng Giới Thạch thất thủ Nam Kinh và phải chạy sang đảo Ðài Loan. Cuộc di tản này là một đại thảm kịch, rất nhiều người chết. Những nhân chứng khi sang đến Ðài Loan đã thuật lại những thảm kịch ấy, nhưng các tài liệu đưa ra mới chỉ phản ảnh được một phần. Lúc chân ướt chân ráo đến Ðài Loan, chính quyền của Tưởng Tổng Thống đã phải đối phó với sự chống đối của người Ðài Loan bản xứ, phần lớn là các dân tộc miền núi và người Phúc Kiến đã di dân sang đảo từ trước thập niên 40. Chính quyền Quốc Dân Ðảng đã phải áp dụng một thể chế độc tài khắt khe trong nhiều thập niên để đứng vững, tái xây dựng với sự trợ giúp nhiều của Hoa Kỳ và những nước khác ở Âu Châu và sau thập niên 50, đáng kể nhất là sự trợ giúp của Nhật Bản. Có thể nói rằng, chương trình dẫn thủy nhập điền, phát triển nông nghiệp và các chương trình làm gia công cho Nhật Bản đã tạo ra nền móng vững chắc cho nền kinh tế và kỹ thuật phát triển Ðài Loan.
Năm 1969, tôi đã có may mắn được đến khu chế xuất tại thành phố Cao Hùng. Nói cho ngay, trong khu chế xuất rộng lớn này, chỉ có một số rất nhỏ các cơ sở sản xuất của chính Ðài Loan, trong đó có công ty làm đồ gia dụng và hàng điện như Taitung. Còn lại, Ðài Loan làm gia công cho Nhật Bản và một phần cho Mỹ. Người Mỹ lúc đó vẫn còn mơ màng về giá nhân công cực rẻ tại Ðông Á và Ðông Nam Á. Những kế hoạch lỗi lạc của Ðài Loan đã nhìn ngay ra sự lợi ích của việc chuyển giao kỹ thuật của các công ty Nhật cho Ðài Loan sau khi mãn hạn khế ước gia công. Cộng thêm với tầm nhìn xa hơn của họ là cho chuyên viên sang huấn luyện kỹ thuật ở Hoa Kỳ, Nhật và những quốc gia Tây phương khác, Ðài Loan đã xây dựng được một đội ngũ kỹ thuật gia giỏi. Những kỹ thuật gia này khi về nước đã nhận giảng dạy và huấn luyện cho những sinh viên ở các trường đại học trung cấp. Giáo dục ở Ðài Loan là ngành tiêu tốn ngân sách cao vào hàng thứ hai sau ngân sách quốc phòng. Các giáo chức được đãi ngộ vào hàng đầu trong khối công chức ở Ðài Loan.
Chuyến đi năm 1969, để tưởng thưởng cho những đóng góp trên các chiến trường của tôi từ bốn năm trước đó, ban tổ chức chuyến viếng thăm đã ghi tên tôi vào thành phần phái đoàn báo chí tháp tùng chuyến viếng thăm chính thức của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thành thử cơ hội này giúp tôi nhìn sự vươn lên của Ðài Loan từ những đổ vỡ và thảm kịch Nam Kinh một cách rõ ràng hơn. Vào thời gian đó, bang giao giữa Ðài Loan và Việt Nam Cộng Hòa rất thắm thiết. Trong lịch sử đón các quốc khách của Ðài Loan, Tổng Thống Thiệu là nhà lãnh đạo Á Châu duy nhất được Tưởng Tổng Thống đi hết chiếc thảm đỏ trải từ phòng Danh Dự phi trường Trung Sơn (ngày nay trở thành phi trường nội địa của Ðài Loan) ra tới tận chân cầu thang máy bay. Thập niên 70 và 80 có lẽ là hai thập niên, Quốc Dân Ðảng Trung Hoa cầm quyền lại không có đối lập, nên họ đã làm mưa làm gió ở đảo quốc này. Chính quyền của Tưởng Tổng Thống làm được rất nhiều việc để xây dựng nền móng cho Ðài Loan, nhưng đồng thời chế độ độc đảng cũng gây ra nhiều hệ lụy không hay, trong đó phải kể đến nạn tham nhũng, cửa quyền. Tham nhũng ở đây phải được hiểu là các cơ sở quốc doanh phần lớn nằm trong tay Quốc Dân Ðảng Ðài Loan, trong khi đó báo chí và truyền thông phần nhiều nằm trong tay chính phủ hay Quốc Dân Ðảng Trung Hoa.
Tại Ðài Loan hiện nay, với chính quyền của đảng Dân Chủ Cấp Tiến, người Ðài Loan hiện đang duyệt xét lại di sản của vị tổng thống đầu tiên của Ðài Loan để lại. Người có ác ý gọi đây là hình thức hạ bệ Tưởng Giới Thạch, nhưng những người cầm quyền trong chính phủ của ông Trần Thủy Biển cho đây là sự chuyển mình của nền dân chủ Ðài Loan. Thời gian năm 1969, hành động xét lại thành tích của Tưởng Tổng Thống sẽ rất dễ dẫn tới tù đày cho những nhà đối lập và nếu giở lại lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc ở Ðài Loan, chuyện này đã xảy ra nhiều lần rồi dưới thời chính quyền Quốc Dân Ðảng Trung Hoa rồi. Nhưng nay khi phái đoàn dân cử Mỹ gốc Việt đến thăm cơ quan gọi là Taiwan Foundation For Democracy, Tiến Sĩ Wen-cheng Lin khoa trưởng phân khoa khoa học xã hội tại trường Ðại Học Quốc Gia Tôn Dật Tiên giữ vai trò chủ tịch cơ quan độc lập với chính phủ này, đã nói thẳng ra rằng nền dân chủ Ðài Loan thực sự chỉ có từ năm 2000. Và lúc Luật Sư Nguyễn Quốc Lân chủ tịch hội đồng giáo dục học khu Garden Grove và Nghị Viên Dina Nguyễn hỏi rằng, liệu chính sách độc đảng của Ðài Loan thời Tưởng Giới Thạch có cần thiết cho việc xây dựng Ðài Loan không và hiện nay Ðài Loan vẫn còn bị Hoa lục đe dọa, tại sao đa đảng cũng vẫn được chấp nhận, Tiến Sĩ Lin nói rằng “sự phát triển hiện nay của Ðài Loan cho thấy ưu thế và sức mạnh của đa đảng trong tình hình thế giới bây giờ, và khi người dân muốn như thế thì phải theo nguyện vọng của họ, vấn đề chỉ là quan niệm, nhu cầu toàn dân, tình hình và thời điểm thuận tiện để thực hiện”.
(Còn tiếp)