Vũ Ðình Trọng/Người Việt
“Thảm cảnh thuyền nhân tại biển Ðông đã thức tỉnh con, lá thư này là con hòa giải với bố. Không phải vì những đồng đội của bố là thức tỉnh con mà những cái chết của thuyền nhân trên biển Ðông khiến con thấy rằng cái chế độ mà một thời con đã cầm cờ đi hoan hô là một chế độ dã thú.”
Anh Ðinh Quang Anh Thái thuật lại lá thư của một người con gởi cho bố mình được viết như thế. Sự thức tỉnh của một người đã một thời ngả theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trong khi bố mình lại là viên chức cao cấp trong chính phủ VNCH, dù quá trễ nhưng chứng tỏ thảm trạng thuyền nhân Việt Nam từ suốt năm 1975 đến thập niên 1990 đã đánh thức lương tâm toàn nhân loại.
Trong buổi ra mắt cuốn sách nhỏ “Thuyền Nhân-Vài trang bi sử” do nhà văn Nhật Tiến biên soạn, những giọt nước mắt đọng lại trên mắt nhiều người khi nghe nhà văn Nhật Tiến nói chuyện. Chẳng ai muốn, nhưng cũng chẳng ai cấm được lòng mình muốn khóc kể cả nhà văn. Trên khuôn mặt ông, tôi nhận ra cái quá khứ đau thương mà ông đã trải qua vẫn còn đó. Ba mươi năm đã trôi qua, nỗi đau riêng ám ảnh ông một thì nỗi đau của những người cùng ở đảo Kra ám ảnh ông gấp mười lần. Tôi biết, ông đã kềm lắm để nước mắt không rớt ra ngoài, cố lắm để nuốt tiếng nấc vào trong, trong vai một nhân chứng sống.
Như lời ông Vũ Quang Ninh, tổng giám đốc Little Saigon Radio: “Biển Ðông đã chứng kiến trong nhiều năm ròng rã cả một giai đoạn bi thảm và hùng tráng của dân tộc chúng ta. Biển Ðông đã dào dạt những trang sử ngàn đời không thể nào để cho quên lãng được” thì với vài trang bi sử mà nhà văn Nhật Tiến trải qua, có lẽ ông sẽ còn trải qua nhiều cơn ác mộng cho đến cuối cuộc đời.
“Trong đêm tối của bầu trời đầy sương đêm và gió lạnh, chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng của trẻ em la hét khi bị giật ra khỏi vòng tay người mẹ, tiếng kêu khó van xin thảm thiết của nhũng phụ nữ chân yếu tay mềm. Bọn đàn ông thanh niên chúng tôi chỉ đành cắn răng nghẹn ngào nuốt căm hờn và tủi nhục dưới họng súng để duy trì mạng sống cho tất cả mọi người.”
“Cơn kinh hoàng tột độ đó kéo dài tới gần sáng mới chấm dứt. Những phụ nữ được kéo trở về nằm bết bát trên nền sỏi đá san hô. Nhiều người tấm tức khóc. Nhiều người lả đi trong vòng tay nghẹn ngào tủi nhục của thân nhân.” (Trích “Hành trình đi tìm tự do bằng tàu thuyền qua ngã Thái Lan”)
Tôi chợt hiểu câu nói của anh Ðinh Quang Anh Thái: “Nhà văn Nhật Tiến phải có cái đầu bằng sắt mới có thể chịu đựng nổi những câu chuyện hãi hùng như vậy xảy ra trong cuộc đời mình khi chứng kiến thảm cảnh thuyền nhân Việt Nam”. Trong mỗi chữ đều thấm đẫm máu và nước mắt tủi hờn.
Cái giá phải trả cho chuyến đi tìm tự do là như thế. Tôi nhớ người Mỹ có câu “Hãy cho tôi tự do hay cho tôi chết”, nhưng với thuyền nhân Việt Nam, sau cuộc khổ nạn có lẽ cái chết lại là một sự giải thoát. Chúng ta phải xem những người còn sống và phải sống như chứng nhân lịch sử là những anh hùng. Có sống được không khi 6 đứa con đều mất xác giữa biển khơi, và chính mình phải liệng thi hài vợ mình xuống biển.
“Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm trên tầu của hải tặc. Bên cạnh tôi là hai anh em Hùng và Châu đang làm hô hấp nhân tạo cho nhà tôi, chắc là nhà tôi vừa được các em vớt lên. Tôi cũng gượng dậy để ra phụ giúp nhưng bọn hải tặc đã ra hiệu là phải hất nhà tôi xuống biển. Thật không còn gì tan nát hơn lòng tôi lúc đó. Tôi nhào lại, ôm nhà tôi vào lòng, đau đớn nhìn nhà tôi hai mắt vẫn còn mở nhưng thân hình đã bất động. Tôi đã dùng tay vuốt cho hai mắt của nhà tôi khép lại rồi tôi khiêng ở đầu, hai em Hùng và Châu khiêng ở chân, hạ nhà tôi xuống biển.”
“Ðó là lần cuối cùng tôi ở cạnh nhà tôi. Những giây phút đớn đau nhất của một đời người. Một cơ sóng áp tới. Biển xanh bao la đầy sóng dữ đã vĩnh viễn lôi cuốn đi người vợ thân yêu nhất đời của tôi. Không bao giờ tôi còn được gặp lại. Không có cả một nấm mồ để tôi lui tới thăm viếng. Một thoáng lay động trên mặt biển. Rồi vĩnh viễn chia lìa.” (Trích “Thảm kịch biển Ðông-Trường hợp của thuyền nhân Vũ Duy Thái”)
Ðây không phải là trường hợp hy hữu. Biết bao người đã sống với những cơn ác mộng hàng đêm, với nỗi nhớ thương quay quắt về người thân chết không một nấm mồ. Khi từ bỏ một địa ngục này sang một địa ngục khác trước khi đến được miền “đất hứa”, niềm hạnh phúc lớn nhất họ nhận được không phải chỉ là sự tự do cho bản thân mà chính là tự do cho con cháu, cho thế hệ mai sau.
Tôi không nghĩ nhà văn Nhật Tiến làm nhiệm vụ như một nhà văn trong cuốn sách nhỏ này. Ông là một nhà báo, một nhà báo chân chính khi đưa ra ánh sáng tội ác của đảng Cộng Sản Việt Nam, tội ác của đám hải tặc Thái Lan và sự thờ ơ, vô cảm của chính quyền Thái Lan đối với thuyền nhân Việt Nam.
“Cuốn sách nhỏ bé này chỉ được thực hiện như một nhắc nhở cần thiết về sự kiện người việt đã phải ồ ạt bỏ nước ra đi để mưu tìm một đời sống tư do và đồng thời góp phần vào việc lên án những tội ác do đảng Cộng Sản Việt Nam đã từng gây ra cho dân tộc Việt Nam vào giữa thời điểm mà các tu sĩ, các nhà văn, nhà báo, các trí thức dấn thân và những công nhân, dân oan trong nước đang quyết tâm lao vào công cuộc đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ ở Việt Nam.” (Trích “Lời Mở Ðầu”)
Một cuốn sách nhỏ nhưng lại trĩu nặng trên tay khi đọc những dòng đầu tiên.