LTS – Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.
HOUSTON (NN) – Năm 2001 khi cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu qua đời tại Boston, bà Phan Thúy Thanh phát ngôn viên chính quyền CSVN đã giữ tục lệ cao đẹp của người Việt Nam “nghĩa tử là nghĩa tận” tránh phát biểu ý kiến về cựu TT Nguyễn Văn Thiệu. Cùng một ý nghĩa đó, tôi giữ những ý kiến về cố Thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt trong lòng khi ông qua đời ngày 11-6-2008 cho đến khi nhìn thây hình cựu Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ đến viếng cựu thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt trong ngày tang lễ 14-6-2008 tại Saigon.
Hình ảnh hai ông cựu thủ tướng với hai cuộc đời chính trị tương phản đã trở lại với tôi khi ông Nguyễn Cao Kỳ có những lời tuyên bố trái ngược với quan điểm dân chủ và hòa hợp hòa giải dịp Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đến Houston ngày 26-6-2008.
Hai hình ảnh trái ngược
Cuộc đời của hai ông Nguyễn Cao Kỳ và Phan Văn Hòa (tên thật của ông Võ Văn Kiệt) hoàn toàn trái ngược mặc dù có nhiều điểm tương đồng.
Ông Nguyễn Cao Kỳ năm nay 77 tuổi, sống và lớn lên trong xã hội tự do dân chủ của miền Nam VN từ những năm niên thiêu lớn lên ở miền Bắc vào thời trước năm 1954 còn ông Võ Văn Kiệt sanh năm 1922 ở Vũng Liêm, vào đảng CS năm 1939, cả đời theo lý tưởng Cộng Sản. Cả hai đạt được tham vọng chính trị khi nắm chức vụ thủ tướng.
Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ năm 1965 nhờ thời thế được Hội đồng Quân nhân bổ nhiệm vào chức Ủy ban Hành pháp Trung ương rồi lên đến chức Phó Tổng thống (1967-1971) cho TT Nguyễn Văn Thiệu. Trong khi cầm quyền, ông Thủ tướng “chánh phủ của dân nghèo” chủ trương chống tham nhũng, nổi tiếng là vụ xử tử hạm gạo Tạ Vinh về tội gian thương. Cuộc đời chánh trị của ông xem như chấm dứt khi ông rút lui khỏi cuộc bầu cử năm 1971 để ông Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống sau cuộc bầu cử độc diễn.
Năm 1975 ông Kỳ di tản qua Hoa Kỳ sau khi kêu gọi mọi người lập chiên khu chông Cộng. Một năm sau khi ông Kỳ sống đời lưu vong ở Mỹ, ông Võ Văn Kiệt nắm chức phó Bí thư rôi lên Bí thư đảng bộ Thành phô Hồ Chí Minh và nắm chức Thủ tướng CSVN từ 1991 đến 1997.
Ông Kỳ nổi tiếng “bay bướm” ngược lại với ông Võ Văn Kiệt mặc dù hai ông đều có hơn một đời vợ. Cả hai ông không có học vân cao. Ông Võ Văn Kiệt tự nhận là ít học vì hoàn cảnh nhưng thích học. Các bà vợ của ông Võ Văn Kiệt thuộc giới trí thức khác hẳn với các bà vợ của ông Nguyễn Cao Kỳ, điều này có lẽ cũng có ảnh hưởng đến đời sống và cuộc đời chính trị của hai ông. Ông Kiệt có tiếng trọng trí thức. Khi làm bí thư đảng ở TP Hồ Chí Minh, ông Kiệt biết lắng nghe và “tha” cho giới trí thức như trường hợp người thầy cũ của tôi là cố GS Phạm Biểu Tâm.
Năm 1977, hệ thống nước thành phố bị ô nhiễm, trong một buổi họp ông Kiệt đã hỏi ý kiến GS Phạm Biểu Tâm. Gs Tâm đã trả lời: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức của chúng tôi khỏe vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ giùm, “Nước” là chuyện của mấy anh chứ đâu phải chuyện tụi tui” (ông Gs người Trung nhái giọng Nam Kỳ để trả lời ông Kiệt).
Có quyền sinh sát nhưng ông Võ Văn Kiệt đã bâng khuâng về những thái độ cương trực của giới trí thức miền Nam như Gs Phạm Biểu Tâm và Gs Trần Ngọc Ninh. Thái độ của ông Kiệt khác hẳn thái độ của ông Kỳ.
Trong khi cầm quyền, ông Thủ tướng VNCH đã bắt chước Mao Trạch Đông gọi “trí thức là cục phân”. Năm 1965, ông Kỳ tuyên bố với phóng viên ngoại quốc “ngưỡng mộ nhà độc tài Hitler, VN cần có bốn hay năm Hitler để ổn miền Nam”. Năm 1967, ông Kỳ sai ông Nguyễn Ngọc Loan đảo chánh Hội đồng Y khoa đại học Saigon, tự nhận là người khai sinh trường Y khoa Saigon và hăm dọa bỏ tù các giáo sư.
Được sống trong khung cảnh tự do ông Kỳ lại thích độc tài khác với ông Kiệt. Đọc lại cuốn sách “Hope and Vanquished reality” của ông Nguyễn Xuân Phong năm 2002, người ta biết cách lập Hội đồng Nội các của ông Kỳ. Ông Nguyễn Xuân Phong trở thành Bộ trưởng Lao động sau khi được đưa lên xe Jeep về biệt thự bí mật trên đường Công Lý để gặp ông Nguyễn Cao Kỳ. Ông Kỳ đã cho ông Nguyễn Xuân Phong lựa chọn “hoặc làm bộ trưởng hoặc đi lính Thủ Đức” vì từ ngày ông Phong về nước làm hãng Exxon sau khi tốt nghiệp ở Anh ông chưa phục vụ Quân đội.
Ông Võ Văn Kiệt ngược lại trong thời kỳ sau 1975 đã cố gắng giữ trí thức ở lại Việt Nam. Những chuyên viên tài chánh trong nhóm Nguyễn Văn Hảo đã được ông Kiệt ưu đãi và chính ông đã làm giấy bảo đảm cho nhiều người nhiêu lần sau những chuyến vượt biên thất bại. Trong những năm làm Thủ tướng, ông Võ Văn Kiệt là người đóng vai trò chánh trong chánh sách “Đổi mới” chứ không phải ông Nguyễn Văn Linh. Có thể nói, ông Võ Văn Kiệt có công trong việc đổi mới mặc dù ông có lỗi phần nào trong chánh sách sau 1975 chứ không thể đổ lỗi hoàn toàn cho Đảng như ông Kiệt đã có lúc lên tiếng sau khi ông không còn giữ chức Thủ tướng.
Hòa hợp hòa giải và dân chủ
Từ năm 2005, cộng đồng người Việt hải ngoại nghe nhiều về “hòa hợp hòa giải” sau nhiều năm thất bại của Nghị quyết 36 của đảng CSVN. Đa số người trong nước và người Việt hải ngoại đã hòa giải với nhau trong 33 năm qua ngoại trừ sự hòa giải giữa nhà cầm quyền và dân nhất là đối với cộng đồng người Việt nước ngoài.
Hai ông Võ Văn Kiệt và Nguyễn Cao Kỳ lại nổi bật trong các vấn đề chánh trị hậu trường về dân chủ và hòa hợp hòa giải.
Ông Võ Văn Kiệt lắng nghe ý kiến của giới báo chí hải ngoại mặc dầu ông không trực tiếp tiếp xúc với cộng đồng người Việt hải ngoại. Những người theo dõi tình hình chính trị thì thấy ông giống như một Triệu Tử Dương, muốn cải tổ chính trị sau khi hết câm quyền. Cuốn hồi ký của ông (đã hoàn tất vào lúc ông mất) sẽ ghi nhận “ông là người đã cải tổ kinh tế “đổi mới” cho VN trong thời kỳ 1991 đến 1997 nhưng cuộc cải tổ chính trị chưa được hoàn tất”. Ước mong “tam quyền” độc lập của nhóm ông Kiệt có lẽ sẽ được ông Nguyễn Văn An cựu chủ tịch Quốc hội tiếp tục theo đuổi, ít nhất là cải tổ Quốc hội để Quốc hội độc lập với Đảng và Nhà Nước, không còn đóng vai “phường tuồng” trên sân khấu chánh trị, còn giấc mộng độc lập về tư pháp và tôn trọng pháp luật có lẽ khó thực hiện được nếu Đảng CSVN còn độc quyên chánh trị giống như tờ Economist hồi đầu năm 2008 nhận định.
Ông Nguyễn Cao Kỳ đi một con đường khác, ông về nước đầu năm 2005 theo sự móc nối của ông Trương Tấn Sang. Con người ông sau bao nhiêu năm vẫn không thay đổi. Năm 1965, ông cho mọi người thây người Mỹ đứng sau lưng ông. Năm 2005, ông cũng tạo ấn tượng là người Mỹ đứng sau lưng ông để đầu tư vào Việt Nam, dân chủ hóa và hòa hợp hòa giải người VN mặc dù trong nội các của ông TT George W.Bush có hai ông Bộ trưởng không có thiện cảm với ông Kỳ.
Ông Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld đã coi thường ông phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ khi ông làm chánh văn phòng cho TT Ford có khi ông dùng đến những lời lẽ không được lịch sự, còn ông Bộ trưởng Colin Powell viết trong cuốn hồi ký “trong khi chúng tôi đổ máu cho dân VN thì ông Kỳ dẫn bà Kỳ, diện bộ đồ bay bằng lụa, đến câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc mỗi tối... Trong thời kỳ hiệp định Paris, ông Kỳ không đi họp, chỉ thích đi ăn chơi với Tuyết Mai”. Ông Kỳ có nhiều mộng lớn ngoài việc dân chủ hóa và dẫn người Mỹ về đầu tư ở VNnhư phỏng vấn dành cho tờ Ngày Nay đầu năm 2005. Trong cuộc phỏng vấn khác, ít được báo chí Việt Ngữ để ý đến, cho tờ Vanity Fair năm2005 ở khách sạn Sheraton ông Kỳ tuyên bố, ông về nước là vì “giới lãnh đạo Cộng sản Viẹt Nam ở thê bí, họ không biêt sẽ làm gì nên mời ông vê đê làm cố vân cho họ” và giấc mộng lớn của cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ không có bằng câp đại học là “lập trường Đại học American University ở VN để phục vụ cho cả vùng Đông Nam Á”, ý tưởng tốt giống như ông đã tuyên bố ông là người sáng lập ra trường Đại học Y khoa Saigon.
Cả hai ông đều không hoàn thành được giấc mộng dân chủ. “Nghĩa tử là nghĩa tận” người ta không nghi ngờ ý tưởng dân chủ hóa của ông Võ Văn Kiệt. Ông thất bại vì đường lối của đảng CSVN còn bám víu vào những mô hình giả tạo. Còn ông Nguyễn Cao Kỳ thất bại là vì ông Nguyễn Cao Kỳ. Tự đại diện cho cộng đồng Người Việt Hải ngoại và lãnh tụ của giới Quân nhân nhưng ông Kỳ thiếu hậu thuẫn ngoại trừ hậu thuẫn của những “bóng ma người Mỹ”. Ông gọi những người bất đồng ý kiến chánh trị với con đường đi của Đảng là những người phản quốc” trong khi những người bất đồng ý kiến chính trị với ông ở hải ngoại gọi ông là “Việt gian” mặc dù trong một khung cảnh lớn thay đổi của lịch sử những biến chuyển sau 1975 chỉ là một thay đổi về thể chế chính trị.
Tư cách của ông Nguyễn Cao Kỳ từ ngày về nước, trong những cuộc tiếp tân ở Dinh Độc Lập với các ông Trương Tấn Sang, Phan Văn Khải đã làm những người ủng hộ ông thất vọng và xem thường ông nhưng hình như ông không nhận thức được điều này.
Trong buổi tiếp tân ở khách sạn Westin Oaks ở Houston dịp ông Dũng thăm Hoa Kỳ, ông Nguyễn Cao Kỳ đã tuyên bố “ông là người Việt Nam qua đây để cám ơn Thủ tướng trong bốn năm qua... Thủ tướng đừng để ý đến đám biểu tình, chúng chỉ độ dưới 100, không đại diện được ai... trong khi có cả ngàn cả triệu người Việt về nước giúp mỗi năm v.v...”. Cái quan niệm dân chủ của ông Nguyễn Cao Kỳ có hơi kỳ, nó khác hẳn quan niệm dân chủ của ông Võ Văn Kiệt. Một người sống lâu trong các chế độ dân chủ ở Việt Nam và Hoa Kỳ như ông lại vẫn giữ tinh thần độc tài Hitler để cố vấn cho nhà độc tài Nguyễn Tấn Dũng, còn một người suốt đời theo lý tưởng Cộng sản, theo đảng Cộng sản như ông Võ Văn Kiệt lại thèm khát ý tưởng dân chủ. Ông Kiệt nhìn rõ Thủ tướng là nô bộc của dân còn ông Kỳ lại quên rằng ở nước dân chủ, Thủ tướng như ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ bị thay thế bởi lá phiếu của người dân chứ không phải bị thay thế vì quyết định của Đảng hay tuổi tác. Ông Võ Văn Kiệt qua nhưng lá thư viết từ 2005 cho thây ông là người trọng ý kiến của dân. Ông Nguyễn Cao Kỳ quên điều căn bản của nền dân chủ, mặc dù ông đang cố vân dân chủ hóa cho đảng CSVN, “ý dân là ý trời” từ Khổng Tử cho đến Montesquieu. Quan điểm ấy không phải chỉ là quan điểm độc nhất của nền dân chủ Hoa Kỳ.
Hòa hợp hòa giải chứ không phải là “gọi dạ, bảo vâng”. Ở điểm này đảng CSVN và ông Nguyễn Cao Kỳ đều lầm lẫn. Những người biểu tình, dù chỉ một người, đã nhắc cho những người cầm quyền biết, có những ý kiến khác biệt cần thiết cho nền dân chủ. Hàng triệu người về VN từ ngày Việt Nam mở cửa năm 1994 và mỗi năm gởi về đến hơn ba tỷ Mỹ kim không phải để giúp nhà câm quyền và để cán bộ Cộng sản nhũng lạm và trở thành quân cướp ngày. Chánh sách hòa hợp hòa giải với người Việt hải ngoại chỉ thành công khi có một cuộc đôi thoại trực tiếp giữa những người cầm quyền và đại diện người Việt hải ngoại cũng như báo chí.
Mở tòa lãnh sự ở các thành phô hay tòa đại sứ ở Washington DC trong khi các ông đại sứ và lãnh sự không dám tiếp xúc với người Việt mà chỉ thích đi đêm với những người “gọi dạ bảo vâng” thì chánh sách hòa hợp hòa giải của Đảng từ sau nghị quyết 36 chỉ là chánh sách hòa hợp hòa giải với người Mỹ như các chuyến viếng thăm của ông Nguyễn Minh Triết năm 2007 và ông Nguyễn Tấn Dũng năm 2008 đã cho chúng ta thấy.
Ông Võ Văn Kiệt đã mất nhưng ý tưởng dân chủ của những người làm việc với ông không mất. Họ sẽ tìm được một người lãnh đạo mới như Nguyễn Trãi đã viết “thời nào cũng có anh hùng hào kiệt”.
Ông Nguyễn Cao Kỳ bị mọi người xem thường vì những hành động của ông trong gần bốn năm qua nhưng theo tôi nghĩ ông Nguyễn Cao Kỳ là người mà các ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh cần phải đề phòng hơn là phe nhóm Võ Văn Kiệt nếu các ông còn nhớ những chuyện cổ Tầu như “Việt Vương Câu Tiễn” và “Hàn Tín”.
Việt Nguyên
7-7-08