Nhân dịp Thế Vận Hội Bắc Kinh: thử nhìn lại mối quan hệ Mỹ-Trung
Saturday, August 09, 2008 Bookmark and Share

LTS – Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.



*Cả hai chính đảng Hoa Kỳ đều phản bội nhân quyền

*Chính sách nhân quyền thân Trung Cộng từ 1972


HOUSTON (NN) – Thế vận hội Bắc Kinh 2008 sẽ được khai mạc ngày 8/8 với sự tham dự của TT George W.Bush. Nhà lãnh đạo Hoa Kỳ luôn cổ võ cho nhân quyền đã viện lý do Thế vận hội tượng trưng cho hòa bình và chính trị phải tách rời khỏi thể thao khác với quan điểm của các nhà lãnh đạo Au Châu như Thủ tướng Gordon Brown (Anh), Angela Merkel (Đức), Donal Tusk (Ba Lan) và Tổng thống Tiệp Vaclav Klaus, những người đã từ chối tham dự Thê vận hội vì sự tráo trở của Bắc Kinh.


Thế Vận Hội, một vấn đề chính trị


Bắc Kinh đã được Uy Ban Thế Vận Hội chấp thuận cho tổ chức Thê vận hội với điều kiện nhân quyền phải được cải thiện nhưng chưa có những bằng chứng nào cho thấy chính quyền Cộng sản Trung Quốc đã giữ lời hứa.
Chính sách của ứng cử viên Tổng thống George W.Bush năm 1999 qua bà Condoleezza Rice, cố vấn Chánh sách ngoại giao: “Giải phóng kinh tế sẽ đưa đến giải phóng chính trị ở Trung Quốc, đó là định luật chắc như sắt (iron law)” đã thất bại. Từ năm 2000, sau khi TT George W.Bush thắng cử Tổng thống, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã cho thấy chánh sách cai trị của họ tàn nhẫn hơn trước.


Bản tường trình của Bộ ngoại giao Mỹ năm 2008 cho thây Cộng sản Trung Quốc đã giết, tra tấn, ép tù nhân thú tội, lao động cưỡng bách dùng tù nhân sản xuất trong các công việc xuất khẩu. Độc tài từ trong nước ra đến ngoại quốc gây ra mối họa: cung cấp vũ khí, nuôi dưỡng các chế độ độc tài từ Á sang Phi, từ Miến Điện, Bắc Hàn cho đến Sudan và Zimbawee. Chánh quyền Cộng sản Trung Quốc là chánh quyền duy nhất phản đối LHQ sau khi Tổng thống Sudan Omar Al-Bashir bị kết tội diệt chủng và vi phạm nhân quyên ở Dafur vào ngày 16/7/2008. Nhà cầm quyền Trung Quốc là bạn của các chánh quyền xem thường nhân quyền như nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.


Nhà văn Ma Jian nổi tiếng về những cuốn tiểu thuyết đấu tranh cho nhân quyền đã có những suy nghĩ ngược với TT Bush: nếu các nhà lãnh đạo Au Mỹ đi dự lễ khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008, họ sẽ rơi vào cạm bẫy tuyên truyền của Cộng sản. Chánh quyền Trung Quốc luôn luôn tìm cách củng cố sức mạnh ở trong và ngoài nước. Bắc Kinh sẽ thành nhà tù khổng lồ nhốt tất cả các nhà chánh trị đối kháng trước ngày khai mạc Thê vận hội. Nếu TT Bush nghĩ rằng TVH có tính cách thuần túy thể thao ông chỉ nên đi dự các buổi tranh tài thể thao và tránh dự ngày khai mạc lẫn bế mạc.
Nhìn lại lịch sử nguyên thủy của Thế vận hội, quả thật MaJian có lý. Mục đích của Olympic là để vinh danh thần Zeus, thần của các vị thần Hy Lạp ở Olympia. Đi dự các cuộc tranh tài ở Olympia là cơ hội để cho thây công dân Hy Lạp, trong một quốc gia gồm nhiêu thành phố trên các hòn đảo rải rác, hội họp và bàn cãi về các vấn đề từ chính trị, thương mại qua đến quân sự và thế vận hội đã là nơi sinh ra những vụ xung đột chánh trị và quân sự.


Ở thế kỷ thứ 7 trước Tây Lịch, đền thờ thần Zeus là nơi tranh chấp giữa hai thành Elis và Pisa. Năm 668 trước Tây Lịch, nhà độc tài Pheidon thành Arcos theo yêu cầu của dân thành Pisa đã chiếm đền thờ Zeus từ tay dân Elis để chủ tọa ngày Olympic. Nổi tiếng nhất là Olympic năm 364 trước Tây Lịch khi đền Zeus rơi vào tay dân Pisa. Dân Elis đã tấn công đền Zeus đúng vào ngày Olympic. Đền Zeus rơi vào tay Elis và ý nghĩa thế vận hội đã mất từ đó. Một năm sau, dân Arcadia và Pisa chiêm thành Altis tổ chức Olympic lần 104, khi dân Elis chiếm lại họ tuyên bố Olympic 104 vô giá trị.
Ý nghĩa Thế vận hội hòa bình chỉ xẩy ra vào thời đại mới khi Nam tước người Pháp Pierre de Coubertin tổ chức thế vạn hội ở Athens Hy Lạp năm 1896. Ngọn đuốc được thắp lên ở Thế vận hội Amsterdam Đan Mạch lần đầu năm 1928 nhưng cuộc chạy rước đuốc là sáng kiến của nhà độc tài Hitler năm 1936. Thế vận hội năm ấy ở Bá Linh mang đầy mầu sắc tuyên truyền và kỳ thị chủng tộc, ngược đãi người Do Thái. Ngọn đuốc rước từ Olympia về Bá Linh qua bẩy quốc gia bị Đức Quốc Xã chiếm đóng theo đúng khẩu hiệu tuyên truyền của bộ trưởng Joseph Goebbels năm 1933, giống như khẩu hiệu của chánh quyền Cộng sản: “Chánh quyền để cai trị, muốn cai trị tốt cần chánh sách tuyên truyền hiệu qủa”.


Ở thế kỷ 20 cũng giống như Thế vận hội thời cổ, chánh trị xen lẫn vào thể thao. Thế vận hội bị tẩy chay đầu tiên vào thời kỳ chiến tranh lạnh năm 1956 ở Melbourne, Uc. Các nước Tây Ban Nha, Nhã Điển và Thụy Điển từ chối tham gia sau khi Sô Viết đàn áp cuộc khởi nghĩa Hung Gia Lợi. Các quốc gia khác, Cambodia, Ai Cập, Iraq và Lebanon tẩy chay vì cuọc khủng hoảng kinh đào Suez. Năm 1976, Gia Nã Đại không cho Đài Loan tranh tài ở Montreal dưới lá cờ Cộng Hòa Trung Quốc cho mãi đên năm 1984 Đài Loan mới trở lại dưới tên Trung Hoa Đài Bắc và lá cờ đặc biệt. Hai kỳ Thế vận hội 1980 và 1984, các đôi thủ trong cuộc chiên tranh lạnh thay nhau tẩy chay. Năm 1980 vì Sô Viết xâm chiếm A Phú Hãn. Năm 1984 Sô Viết và 14 nước Đông Au trả đũa không tham dự TVH ở Los Angeles.
Sáng kiến Thế vận hội hòa bình của ông Coubertin thất bại trong thời kỳ chiến tranh, năm 1916 Thế chiến thứ nhất và 1990, 1994 Thê chiên thứ hai đã không có Thế vận hội.


Chánh sách nhân quyền của Hoa Kỳ


Cuộc phản đối TVH Bắc Kinh 2008 bắt đầu khi nhà đạo diễn Steven Spielberg rút lui khỏi chức cố vấn nghệ thuật cho ngày khai mạc và bế mạc vì chánh quyền Cộng sản Trung Quốc liên hẹ đến chánh quyền Sudan đưa đến chiến tranh diệt chủng ở Darfur, tiếp theo là những cuộc biểu tình bị đàn áp dã man ở Tây Tạng vào tháng 3 năm 2008.
Cuộc phản đối chánh quyền Bắc Kinh đã bị thất bại một phần cũng vì chánh sách nhân quyền của Hoa Kỳ từ sau cuộc chiến tranh lạnh. TT Gorger W.Bush chỉ đi theo con đường vạch ra của TT Richard Nixon năm 1972, đối đầu với Bắc Kinh “chỉ nghĩ đến củ carrot mà quên cây gậy”. Hoa Kỳ nhân nhượng Bắc Kinh để đối đầu với khối Sô Viết. Đến thời TT Ronald Reagan chánh sách của Hoa Kỳ rõ ràng: không đối đầu với Trung Quốc. Năm 1992, ứng cử viên TT Bill Clinton đã tấn công TT Bush cha “chỉ biết nịnh bợ Trung Quốc” nhưng khi TT Clinton cầm quyền chánh sách không đối đầu với Trung Quốc càng lún sâu vì những quyền lợi kinh tế của các công ty lớn. Khi TT George W.Bush nắm quyền năm 2000, ông đã xem Trung Quốc là địch thủ do lời khuyên của các cố vấn tân bảo thủ nhưng chỉ còn vài tháng cầm quyền, TT Bush của siêu cường duy nhất với ngân sách quốc phòng mười lần hơn Trung Quốc đã bất lực khi đối đầu với Bắc Kinh vì những quyền lợi kinh tế hỗ tương. Bắc Kinh không nhượng bộ từ vấn đề nguyên tử ở Iran cho đến nhân quyền và tự do tôn giáo. Trung Quốc không phá giá đồng Nguyên. Các đại công ty như General Electric, Kodak, Coca Cola từ chối không bàn về các vấn đề chính trị vì sợ làm phiền chánh quyền. Các công ty Hoa Kỳ cần thị trường tiêu thụ của Trung Quốc cho nên Microsoft, Yahoo và Google phải uốn nắn theo chánh sánh kiểm duyệt của Bắc Kinh. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phải xác nhân từ thập niên 1990 tự do mậu dịch đưa đên tiến bộ kinh tế nhưng không đưa đến sự cải thiện nhân quyền.


Hoa Kỳ ủng hộ Trung Quốc vào tổ chức WTO hy vọng TQ sẽ đi theo đúng những luật chơi quốc tế nhưng họ đã thất vọng. Ông Robert Cassidy, cầm đầu đại diện phái đoàn Hoa Kỳ thương thuyết để Trung Quốc vào WTO đã xem đây là lỗi lầm của Hoa Kỳ: Kinh tê Hoa Kỳ và công nhân Hoa Kỳ không có lợi, kẻ có lợi thật sự là những đại công ty và các cơ quan mậu dịch. Dân Mỹ cũng đồng ý với ông Cassidy, nghĩ khác với chánh quyền. Năm 1999 chỉ có 1/3 dân Mỹ đồng ý Hoa Kỳ nên nhận Bắc Kinh vào cơ quan WTO. Năm 2002 hơn 51% dân Mỹ thây Hoa Kỳ cần có chánh sách cấm vận đối với Trung Quốc trái với 22 % ý kiến của các nhà lãnh đạo lưỡng Đảng.


Chánh sách nhân quyền của Hoa Kỳ cũng không thay đổi trong mùa bầu cử tổng thống 2008. TNS Barack Obama có lập trường “xem chừng Bắc Kinh đi theo đúng luật quốc tế” còn TNS John McCain “đối thoại xây dựng” nhưng đối thoại xây dựng của TNS McCain là ảo tưởng của đảng Cộng Hòa nổi tiếng chống Cộng được sự ủng hộ của Cộng đồng tị nạn Việt Nam.
Lập trường của hai ông không thay đổi vì các cố vấn tối cao của hai đảng đều có quyền lợi dính liên với Trung Quốc qua những công ty tư vấn. Ông Jeffrey Bader, cố vấn tối cao của TNS Obama về ngoại giao, đã từng là nhà bình luận cho CNN, Fox, ABC trong những năm phục vụ cho chánh quyền Clinton giữ chức vụ cố vấn an ninh và nhân viên ngoại giao, qua thời George W.Bush ông là một trong các thành viên thương thuyết cho Trung Quốc vào WTO. Khi về hưu ông Bader làm việc cho công ty tư vấn Stonebridge International, cố vấn cho các công ty làm ăn với Trung Quốc. Chủ trương của ông Bader và Stonebridge là mậu dịch song phương mà không đề cập đến các vấn đề chánh trị kể cả nhân quyên, quyền lợi kinh tế là vấn đề quan trọng nhất trong liên hệ giữa hai nước, đem lại hàng trăm ngàn công việc cho người Mỹ và tốt cho các cổ phần viên các công ty.

Về phía đảng Cộng Hòa, người nổi tiếng nhất là tướng Alexander Haig, ông ủng hộ ứng cử viên Cộng Hòa John McCain, làm việc với công ty tư vân Worldwide Association. Tướng Haig ủng hộ Trung Quốc từ thời Nixon sang Tầu năm 1972. Ngoại trưởng thời chánh quyền Ronald Reagan, luôn luôn ủng hộ Bắc Kinh, ông Haig đương đầu với nhóm vận động cho Đài Loan ở Washington D.C. Người Việt Nam thường xem ông là người chống Cộng như TT Nixon nhưng tướng Haig xuất hiện ở Thiên An Môn ngày 1/10/1989, bốn tháng sau cuộc thảm sát để ăn mừng 40 năm thành lập chánh quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Các nhà ngoại giao Au Châu tẩy chay buổi lễ nhưng tướng Haig đã đứng trên bục cùng ông Đặng Tiểu Bình. Người thừa kế tướng Haig là ông Brent Scrowcroft cố vấn an ninh ngoại giao cho TT George W.Bush cũng đi một con đường như ông Haig. Sau cuộc thảm sát Thiên An Môn, ông Scrowcoft được bí mật gởi qua Trung Quốc với sứ mạng: không làm đổ vỡ quan hệ Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn. Sau khi hết làm việc trong chánh quyên, ông Scrowcroft thường hay gặp Thủ tướng Lý Bằng. Nhóm tư vấn Scrowcroft vẽ các chương trình điều hành cho các khách hàng lớn Hoa Kỳ làm ăn với Trung Quốc. Ông Scrowcroft cùng đồng ý với ông Bader (Cố vân cho TNS Obama): kinh tế sẽ giúp quan hệ hai nước tăng trưởng về mặt an ninh và nhân quyên, dân Trung Hoa sẽ được tự do hơn, Trung Quốc bán hàng hóa rẻ tốt cho giới tiêu thụ của các công ty như Walt Mart. Trung Quốc cho Hoa Kỳ vay tiền, giúp ổn định tài chánh. Vì thế, ông Bader ủng hộ đức Đạt Lai Lạt Ma nhưng không chủ trương trả đũa Trung Quốc.


Biết các đại công ty tư vẫn có ảnh hưởng lên chánh quyền Hoa Kỳ, Bắc Kinh chẳng nhưng không tôn trọng nhân quyên mà còn có những biện pháp ngăn chặn giới trí thức và học giả chuyên đến vấn đề nhân quyền như ông Peter Link ở Viện Nghiên cứu Đông Á đại học Princeton đã gặp khó khăn với chánh quyền CS Trung Quốc. Họ không cấp chiêu khán và lập danh sách đen học giả và nhà báo Hoa Kỳ hay bàn về nhân quyền và thành phần đối kháng Trung Quốc. Họ không cho phép sinh viên Hoa Kỳ qua Trung Quốc nghiên cứu về nhân quyền.


Tiếng nói đấu tranh cho nhân quyền ở Trung Quốc và Việt Nam vẫn tiếp tục cho đên ngày Thế vận hội Bắc Kinh khai mạc, nhưng những “tiếng nói trong sa mạc” bị che lâp không chỉ vì chánh quyền độc tài mà còn bị che lấp vì thế lực tài chánh của các đại công ty Hoa Kỳ và chánh sách nhân quyền của Hoa Kỳ cũng sẽ không thay đổi trong bốn năm tới dù cho Tổng thống đó là ông Obama hay ông McCain.

Việt Nguyên
(Houston 24 tháng 7-2008)

Thông báo về tuyển tập 'Từ Bàn Viết Houston'

Tuyển tập “Từ Bàn Viêt Houston” có thể mua tại:

1701 Webster St., Suite B

Houston, TX 77003

Điện thoại liên lạc: (713)655-9083

Giá bán: 40 mỹ kim một tập (hai cuốn)

Check xin đề tên: Nguyen Duc Tue





Những Bài Liên Quan:
NGUOI VIET Online (www.nguoi-viet.com)
Tìm kiếm bài :
Nguoi-Viet

Promote Your Page Too
Tin Khác