Tản Mạn Đầu Năm Về Cuộc Đời: Mất Một Người Bạn Thân Dễ Dầu Tìm Thấy Được (Việt Nguyên)
Thursday, February 19, 2009 Bookmark and Share

* VIỆT NGUYÊN

(Đặc biệt của Ngày Nay)


*Nhớ Về Trọng Kim, Trương Trọng Trác, TR3


LTS – Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.



Trong vòng mười năm qua, những tấm thiệp Tết của báo Ngày Nay vẫn còn nằm trong ngăn bàn viết của tôi. Những tấm thiệp không thay đổi kiểu mỗi năm. Mặt ngoài tấm thiệp hình trang nhất báo Xuân Ngày Nay, mặt trong là những giòng chữ viết tay của ông bạn già, chủ nhiệm chủ bút Ngày Nay, Trọng Kim: “Cám ơn ông bạn trẻ Việt Nguyên đã hết lòng với ông bạn già và với tờ báo trong năm qua”. Năm ngoái, bìa ngoài tấm thiệp ở trang nhất báo Xuân thiếu bài của Việt Nguyên và năm nay tờ Xuân Kỷ Sửu Ngày Nay ở trang đầu thiếu bài của Trọng Kim và tấm thiệp Xuân không đến nhà tôi sau khi số báo Xuân phát hành.


Vẫn biết, cái Tết ở hải ngoại là một cái Tết nhạt, nhưng rồi năm nay cái Tết lại nhạt thêm với một khoảng trống từ đầu năm Dương lịch mặc dù tôi vẫn cố giữ thông lệ cũ. Ngày mồng một Tết, xuất hành sau màn chúc Tết ở nhà, đi xuống xa lộ 45 về hướng Nam đến chùa Phật Quang (khác với ông bạn chủ nhiệm của tôi sau khi cúng Giao thừa đi về hướng Tây) thăm cha mẹ và chị tôi, sau đó rời chùa đi thêm vài dặm đường đến vùng South Belt đến nhà ông “suôi gia” và ghé đến nhà ông bạn già nhà báo, uống miếng nước trà, cắt chiếc bánh chưng, ăn vài hạt mứt sen, chúc nhau vài câu, ôn chuyện trong năm, nhắc chuyện quê nhà những năm tháng cũ và lòng thấy sắp hết một ngày xuân!

Năm nay, tôi xuất hành đi lên ngôi chùa Linh Sơn miền Bắc, ghé xuống miền Nam đến chùa Phật Quang và chẳng cần đi xa thêm để thăm ông anh và ông bạn già Trương Trọng Trác. Ông anh đã ở đó, cạnh cha mẹ tôi và những người thân như Giáo sư Bùi Đình Tấn, người thầy của anh học trò Chu Văn An gương mẫu, ngày nào.


Trưởng Hướng ĐạoTrương Trọng Trác



Bức ảnh bán thân đẹp trai của anh bên cạnh những ngọn nến lung linh khiến tôi nhớ lại những hình ảnh của anh, trưởng Hướng Đạo Trương Trọng Trác của phòng trào Hướng Đạo Việt Nam trước năm 1975. Năm năm trước, khi trưởng Nguyễn Văn Thơ, Hội trưởng Hội Hướng Đạo VN qua đời, tôi và anh đứng cùng một bên đưa quan tài trưởng Thơ, người anh lớn của chúng tôi, đi ra nhà thờ. Nhưng vào những ngày tháng trước, tôi và anh không đứng cùng một bên như những năm về sau này. Anh là một trong những trưởng trẻ của phong trào Hướng đạo VN. Cách nhau đến chín năm, gần một thế hệ, một thiếu sinh như tôi xem những trưởng Hướng Đạo, dù là trưởng trẻ, như những thần tượng, ở xa và ở trên cao. Phong trào Hướng Đạo thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, theo đường lối hoạt động và giáo dục của Huân tước Baden Powell, nhưng chịu ảnh hưởng của xã hội miền Nam bấy giờ trong thời chiến tranh. Một xã hội sau cách mạng 1963, chịu ảnh hưởng của những thay đổi của thế giới trong năm 1968.

Một thập niên nổi loạn ở Hoa Kỳ, ở Nam Mỹ, ở Pháp, ở Sorbonne, ở các trường đại học và phong trào Hướng Đạo VN cũng có những nổi loạn thay đổi ngấm ngầm. Các trưởng trẻ thay các trưởng già. Những trưởng Hướng đạo trẻ, trong Hội đồng Trung ương được trưởng Trần Điền ủng hộ, được chúng tôi xem như thần tượng. Những người Hướng đạo trẻ mang tinh thần Hướng đạo với ba lời hứa: Trung thành với tổ quốc, giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào và tuân theo luật Hướng đạo, có nhiều sinh hoạt đa dạng và năng động khác, như anh Đỗ Ngọc Yến, với phong trào CPS, cặp kính cận trên sống mũi rất hùng biện mỗi sáng sau buổi lễ chào cờ và tuyên thệ, như anh Đỗ Quý Toàn, đạo trưởng bằng Rừng, ủy viên ngành tráng, linh động trong vai trò quản trại trong những đêm lửa trại nửa đêm về sáng khi sương xuống lạnh trên vai những hướng đạo sinh còn sống với mười điều luật.


Trưởng Trương Trọng Trác, thần tượng trẻ của chúng tôi khác hẳn. Với dáng người cao khanh khảnh, giọng nói hơi chán, thiếu cái hấp dẫn khi mới gặp lúc “thuở ban đầu”, khó lưu luyến. Anh chỉ hấp dẫn chúng tôi với sự chân tình và tấm lòng thẳng thắn sau nhiều lần sinh hoạt. Anh Đạo trưởng Đạo Hoa Lư, tên rừng Hươu Nhanh, Uy viên ngành Thiếu ấy lại có nhiều “huyền thoại” để kể lại với tôi (phó Đạo trưởng một đạo khác với anh) sau này, những câu chuyện ý nghĩa và ý nhị về Hướng Đạo đặc biệt của trưởng Trương Trọng Trác. Như lần anh được chọn làm Hướng đạo sinh thế giới trên con tem của Quốc gia Kenya năm 1968 sau kỳ họp bạn Hướng đạo Thế giới, một hãnh diện ít người biết. Như một câu chuyện vui, khi trưởng Lê Gia Mô (Đạo trưởng của tôi) đã “dán nhãn” xấu cho anh khi anh trở về Việt Nam trễ sau một chuyến đi tham dự Hướng Đạo một mình đi xuyên rừng từ Lào về Việt Nam.


Con người Hướng Đạo gương mẫu ấy đôi khi gây nhiều mâu thuẫn, lúc nào cũng giữ những nguyên tắc bất di bất dịch thiếu linh động khiến người thích anh thì xem anh có nét của tài tử Cary Grant, người đẹp trai trong phong trào Hướng Đạo, người không thích thì gọi anh là con người có gương mặt lạnh lùng thiếu thiện cảm. Nhưng anh là mẫu người của phong trào Hướng Đạo trẻ của chúng tôi ở thập niên 1970. Những người Hướng Đạo hoạt động vô vụ lợi, và sinh hoạt qua những phong trào thanh niên sinh viên khác. Những Hướng đạo trẻ có nghề nghiệp, có trình độ học vấn và dấn thân. Một Tr3, phóng viên chiến trường, một Trương Trọng Trác kỹ sư Phú Thọ, giáo sư Hóa học trường Cao Thắng, một ký giả yêu nghề báo vẫn là một người Hướng đạo trẻ tuổi yêu nước giữ được lời hứa số 1 của Hướng đạo. Những người Hướng đạo yêu lý tưởng ấy dù ở VN hay sau này ở các quốc gia ở khắp miền trên thế giới vẫn cố giữ những mẫu số chung dù chúng tôi có nhiều quan điểm khác biệt. Ở điểm này, con người Hướng đạo sôi nổi của tôi và con người trầm tĩnh của trưởng Trương Trọng Trác vẫn hạp với nhau trong hơn 46 năm qua từ ngày tôi còn là một tân sinh. Con Báo Hăng hùng hổ (tôi) thích tranh luận, cựu hướng đạo Cửu Long của ông trưởng Đỗ Quý Toàn, vẫn có thể chơi cùng với con Hươu Nhanh hiền từ Trương Trọng Trác, Đạo trưởng Đạo Hoa Lư.


Nhà báo Trọng Kim


Những hãnh diện về ngôi trường cũ Chu Văn An, những kết hợp vì lý tưởng của phong trào Hướng Đạo và những say mê chữ nghĩa, báo chí đã nối chúng tôi trong những năm sống với nhau ở Houston từ khi tôi về đây năm 1983. Nhiều khi tôi tự hỏi những người Hướng Đạo có nghề nghiệp lại có thể say mê viết báo? Như những người bạn Hướng Đạo cũ nhận xét, ở Nam California có Đỗ Ngọc Yến và Đỗ Quý Toàn, ở Houston có Trọng Kim và Việt Nguyên. Báo chí là một thú vui, một sự say mê, nghiện ngập, vào nghiệp báo rồi như người nghiện thuốc phiện. Báo chí như là một nghề và là một nghề rất bạc, kết thúc rồi như Chu Tử, như Từ Chung. Một nghề bạc như khi Mai Thảo giận, quăng một lá bài, lên giọng khinh bạc “đếch”.

Bạn tôi say mê nghề báo như là một thú vui và đam mê. Con người trầm tính, ít nói, dấu được những cảm xúc, cố tránh mất lòng người như Trọng Kim hợp với nghiệp báo.


Năm 1992, tôi chiều lòng ông bạn già của tôi để giúp đỡ cho Du Tử Lê làm tờ Văn Nghệ ở Houston rồi bị “sức quyến rũ của chữ nghĩa mạnh mẽ” lao vào nghiệp viết báo, cái nghiệp mắc phải vào năm 16 tuổi vì ham vui với bạn bè. Khi tờ Văn Nghệ đóng cửa, ông bạn Trọng Kim mới nhận tờ Ngày Nay từ ông Nguyễn Ngọc Linh đã rủ rê tôi viết trở lại sau vài năm “treo viết”. Trong bài tùy bút “Houston khoảng thời gian đã mất” tôi có viết “vì lời hứa sau ly Cognac quá độ giữa tôi và ông Chủ nhiệm Trọng Kim mà cột mục Từ Bàn Viết Houston được chuyển sang Ngày Nay”.


Nhưng sự thật là tôi đã làm khó dễ với ông anh Trọng Kim của tôi. Tôi đã viết trong một số báo Văn Nghệ đặc biệt về Mai Thảo, chúng tôi Du Tử Lê và Việt Nguyên có một ước muốn trong sáng làm một tờ báo như tờ Sáng Tạo, và tôi sẽ viết cho Trọng Kim trong chiều hướng ấy mặc dù Ngày Nay là tờ báo có khuynh hướng chánh trị khác với tờ Sáng Tạo ngày trước. Chúng tôi đã giữ lời hứa với nhau. Anh say mê làm tờ báo tự hào “có uy tín nhất hải ngoại”, tôi cố gắng viết mỗi hai tuần trong tám năm qua. Anh đã giữ được tinh thần kết hợp nhiều khuynh hướng khác nhau. Hơn hết, anh là một người bạn thân. Một người bạn thân theo định nghĩa như ông Nguyễn Văn Ngân khi gọi điện thoại chia buồn với tôi: “moi chia buồn với toi, thời buổi này tìm được một người bạn thân để nói đủ thứ chuyện mà không cần phải giữ ý thì rất khó!” Làm báo đã khó, nói với nhau những điều không nên nói, giữ bí mật lại càng khó hơn. Anh đã giữ được cái can đảm của người làm báo, thẳng thắn, đám giữ những ý kiến khác nhau trên cùng một diễn đàn. Nói khó, viết khó hơn, ai cũng hiểu như vậy nhưng dám viết những điều người khác nghĩ mà không dám viết càng khó hơn. Anh đã có can đảm đăng những bài như “vàng rơi không tiếc” của Đào Vũ Anh Hùng.


Ngày đầu năm tôi nhận được rất nhiều Email, chia buồn với tôi: “đã mất một người bạn văn nghệ”. Thật ra, với tôi, anh Trọng Kim không phải là một người bạn văn nghệ. Anh là một người làm báo khô khan. Tôi yêu sách, thích văn chương làm việc với một nghề khô khan nên thích viết theo con đường văn nghệ, con đường viết báo như Nguyễn Xuân Hoàng ví von “bơi trên dòng sông thời sự dưới đám mây văn chương” còn anh viết báo như một ký giả, không văn chương, nhưng anh là một người làm báo giỏi.


Trong tám năm qua, chúng tôi là đôi bạn thân. Tôi đã mất một người anh hơn là mất “một người bạn văn nghệ”. “Tòa soạn” của chúng tôi ở quán Café, ở vùng West University, khu trường Rice, trước quán Café Pháp, sau dời về quán Café Nam Mỹ Salento ở trên đường Rice. “Cậu gặp ta ở quán Café Nam Mỹ”, câu này được nói nhiều lần qua điện thoại cầm tay và nó nhắc tôi ngày làm báo sắp tới hay nó lại là câu nói vui khi báo mới ra “có vài số cho cậu đọc trước”. Về sau “tòa soạn” chúng tôi có khi ở quán Starbucks trên đường West Gray gần phòng mạch, Starbucks trên đường Buffalo cạnh xa lộ 59 khi chàng trở về tòa soạn ở đường Montrose từ khu South West. Thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp nhau ở Café La Madelaine ở khu River Oaks để nhớ cái không khí Tây của quán Café chúng tôi thường đến với Mai Thảo mỗi lần ông đến Houston trên con đường Westheimer.


Tại quán Café Salento (nơi chúng tôi uống café với nhau gần như mỗi ngày như Du Tử Lê viết), chúng tôi đã sông với không khí Café ở
Saigon, Café ở khu Tả ngạn Paris. Quán Café thành tụ điểm mới khi đón những người bạn từ phương xa đến. Nơi Trọng Kim, Nguyễn Xuân Hoàng, Du Tử Lê, Việt Nguyên gặp nhau mơ làm một tuyển tập hình ảnh Tr3. Thơ DTL, văn Nguyễn Xuân Hoàng và các bài bình luận Việt Nguyên. Quán café Salento đã làm hứng khởi cho những bài tùy bút như “Houston: thành phố luôn đổi mới với những thay đổi bất ngờ” ngồi với Trọng Kim và mơ về “những cơn mùa ào ạt chợt đến, chợt đi, nhớ một Saigon nóng bức với những cơn mưa vào mùa hè”, “ngồi bên lề đường quán café để nhớ những cơn mưa ở Saigon”.


Sau cơn bão Ike, ở quán café Starbuck đường
Buffalo, Trọng Kim đã có ý kiến giải tỏa được những bất hòa từ trước giữa anh và đài Saigon Houston, Dương Phục Vũ Thanh Thủy.

Hồi tháng 7 năm 2008, tôi may mắn ra kịp lúc tuyển tập “Từ Bàn Viết Houston” gồm những bài viết đã đăng trên Ngày Nay trước khi tình trạng sức khỏe của anh càng ngày càng kém. May mắn là vì tôi đã có dịp cám ơn anh, (một trong hai người tôi đã xem là Trưởng, anh và bạn). Nhờ tài làm báo của anh mà tôi đã viết được những bài có giá trị cho độc giả và giữ tờ Ngày Nay có giá trị. Nêu không có những giao cảm với Trọng Kim thì có lẽ Việt Nguyên sẽ không có những bài viết sửa sai đài BBC như “chuyến đi của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu” hay bài “Theo dõi chuyến đi của ông Nguyễn Minh Triết” và bài so sánh giữa ông Kiệt và ông Kỳ khi Nguyễn Tấn Dũng đến Houston. May mắn là vì chúng tôi đã nói được với nhau những điều chúng tôi muốn nói bôn tháng trước khi anh lâm trọng bệnh.


Trọng Kim đã làm báo trọn tình với anh em, không phải chỉ với anh em Chu Văn An như anh Ngô Hữu Liễn nói mà còn trọn tình với các anh em cũ trong giới văn nghệ. Năm 2007, tôi đồng ý vớiNguyễn Ngọc Bảo bảo trợ chương trình Du Tử Lê vì biết Du Tử Lê bị bịnh ngặt nghèo. Sau đó Ngày Nay làm số đặc biệt cho nhà thơ Du Tử Lê, một trong những người bạn thân của Trọng Kim từ ngày đi học ở Chu Văn An. Vài tháng sau Ngày Nay có số đặc biệt cho nữ tài tử Kiều Chinh sau khi bà được đài Little Saigon làm một buổi vinh danh. Đến đầu năm 2008, Trọng Kim làm Ngày nay số đặc biệt Mai Thảo nhân ngày giỗ 10 năm của nhà văn, tôi đã phải gãi đầu suy nghĩ về số đặc biệt này? Ngồi bên ly café của quán Salento, Trọng Kim đã nói với tôi: “Như vậy là xong tình nghĩa với bạn bè”. Đến cuôi năm, khi anh lâm trọng bệnh tôi mới hiểu rõ câu nói ấy.


Tôi cám ơn những người bạn đã gửi thư chia buồn vì “tôi đã mất một người bạn”, thật tình như mọi người đã biết, tôi đã mất hơn một người bạn.

Trong những ngày cuối cùng với anh Trương Trọng Trác, tôi sống lại cái cảm giác như ngày tôi nhìn ông thây tôi, Gs Bùi Đình Tấn, trên giường bệnh. Cái cảm giác bất lực của người thầy thuốc trước bịnh nhân. Cái tương quan giữa người và người từ giây phút ngôi trên chiếc xe cứu thương đi đến phòng cấp cứu. Trong hơn 25 năm làm phòng cấp cứu, tôi lại đứng nhìn một người thân thiết đánh nhau với tử thân. Những cấp cứu và phương tiện tối tân nhất cũng chỉ đưa đến một hy vọng mỏng manh. Con người hoạt động tự lập suốt cuộc đời rồi lại như đứa trẻ..


Một đêm đứng trên lầu cao bịnh viện Methodist nhìn qua cửa sổ, nhìn xuống những đám tuyết rơi hiếm hoi trên thành phố Houston, tôi nghĩ đến đêm Giáng sinh Tsunami bốn năm về trước, lái xe trên xa lộ 45 qua vùng nhà bạn và thấy cuộc đời của người bạn già đã sống trọn vẹn, sông hữu ích cho xã hội rôi cũng như những đám bông tuyết bên ngoài khung cửa. Bốn ngày sau khi đưa anh vào bịnh viện, tôi đi
Seattle. Trở về Hosuton, đêm Giáng sinh năm 2008, nhìn những cụm tuyết, nhìn cặp mắt người bạn già trên giường bệnh, tôi về đọc lại những bài viết về não bộ. Tôi đã mơ rằng tâm hồn người bạn già sẽ vững như những cây tre trúc trong vườn nhà anh, những ngọn gió mạnh đã thổi qua có làm cây oằn nhưng sẽ không gẫy.


Giấc mơ của tôi không trọn vẹn. Cuộc đời giữa chúng tôi, hai người bạn, như lời khuyên của nhà văn Gustave Flaubert với người bạn trẻ nhà văn Guy de Maupassant: “Cuộc đời là phương tiện dẫn đến con đường cuối...” Con đường đó đưa người khách lữ hành trở về nhà, người Phật tử Minh Đức nay đã về cạnh người thầy cũ CVA của anh, Phật tử Minh Lưu, trong cùng một ngôi chùa.

Mọi người sẽ nhớ đến anh, còn tôi, tôi sẽ không quên đôi mắt bạn tôi. Đôi mắt mà nhà văn Ngô Thế vinh đã kể lại, khi anh học cùng với Tr3 lớp ba trường Hàng Than sau hơn 40 năm, hai người bạn học cũ gặp lại nhau anh Vinh vẫn nhận ra đôi mắt người xưa ấy của những ngày còn thơ.

Tôi biết, đôi mắt ấy, rồi đây sẽ đi theo tôi trong nhiều năm...


Việt Nguyên

(7-2-2009)

Những Bài Liên Quan:
NGUOI VIET Online (www.nguoi-viet.com)
Tìm kiếm bài :
Nguoi-Viet

Promote Your Page Too
Tin Khác